Lá thư của SỮA – lời nhắn nhủ đến các bệnh nhân (phần cuối)

Cảm giác những giọt sữa mềm mại, ngậy béo trôi qua cổ họng có lẽ sẽ theo chúng ta suốt cuộc đời. Nhưng ít ai ý thức rằng, từ thời điểm đó, cơ thể chúng ta sẽ phải đối mặt với hàng loạt những nguy cơ về sức khỏe. Không một ông bố, bà mẹ nào lại nghĩ rằng mình đang cho con sử dụng một loại thực phẩm “kỳ diệu” đến vậy để giúp con mắc nhiều chứng bệnh nan y như tiểu đường, ung thư,…Phần 3 cũng là phần cuối trong loạt bài “Lá thư của sữa, lời nhắn nhủ đến các bệnh nhân” tiếp tục hé lộ những thông tin không mấy tốt đẹp từ các thực phẩm của ngành công nghiệp SỮA BÒ!

milk-causes-disease

Để thông tin được liền mạch, xin vui lòng đọc phần 1 và phần 2 của loạt bài này

BỆNH BẠCH CẦU, U BẠCH HUYẾT? THẬT LÀ TỒI TỆ – BẠN HÃY TỰ CHỐNG ĐỠ NHÉ!

Tôi ghét khi nói đến điều này, tuy nhiên virus bạch cầu trong bò sữa được phát hiện nhiều hơn tại 3 trong 5 trang trại bò sữa ở Hoa Kỳ! Như vậy, bệnh này có liên quan đến 80% đàn bò sữa. Thật không may, khi sữa được phối trộn, một tỷ lệ rất lớn sữa sẽ bị ô nhiễm(chiếm từ 90%-95%). Tất nhiên, virus sẽ bị loại bỏ theo phương pháp tiệt trùng Pasteur nếu như phương pháp tiệt trùng thực hiện đúng theo tiêu chuẩn. Còn sữa nguyên liệu thì sao? Trong một nghiên cứu của các mẫu sữa nguyên liệu thu thập ngẫu nhiên, virus bạch cầu xuất hiện trong bò sữa chiếm tỷ lệ 2/3 trong tổng số mẫu.

Tôi hi vọng đàn bò sữa nguyên liệu được chăm sóc cẩn thận khi tiếp xúc với các đàn gia súc khác (tạp chí khoa học năm 1981; trang 213:1014) Đây là vấn đề của toàn thế giới. Một nghiên cứu rất dài tại Đức than phiền về vấn đề này và thừa nhận không thể giữ virus trong phần còn lại của đàn bò được nữa. Thông thường ở khối Euro, trong đó có Đức và Thụy Sĩ, đã cố gắng “tiêu hủy” những con bò nhiễm bệnh trong đàn gia súc. Trên thực tế, Hoa kỳ phải là quốc gia đi dầu trong cuộc chiến chống lại bệnh bạch cầu trong đàn bò, phải vậy không? Hoàn toàn sai! “Chúng đã hành xử thật tồi tệ giống như cách mà Venezuela làm trước kia” – theo Bác sĩ Virgil Hulse, một chuyên gia về sữa cũng là người có bằng cử nhân khoa học trong ngành sản xuất sữa bò và cũng có bằng thạc sĩ y tế cộng đồng.

Như đã đề cập, virus bạch cầu bị giảm hoạt tính bởi phương pháp tiệt trùng Pasteur. Tất nhiên là vậy! Tuy nhiên, có thể có những tai nạn kiểu như Chernobyl. Một trong những tai nạn kiểu đó đã thực sự xảy ra tại Chicago vào tháng tư năm 1985. Tại một nhà máy sản xuất sữa hiện đại, rộng lớn quá trình sản xuất sữa đã vô tình xảy ra hiện tượng “kết nối chéo” giữa sữa nguyên liệu và sữa tiệt trùng. Một đại dịch salmonella xảy ra sau đó đã giết chết 4 người và khiến cho khoảng 150.000 người bị nhiễm bệnh. Một câu hỏi đặt ra cho ngành sản xuất sữa bò là :” Làm thế nào để có thể đảm bảo với những người uống sữa rằng họ không phải uống sữa nguyên liệu, virus chưa tiệt trùng, hay những bạch cầu trong bò sữa đã được giảm hoạt tính”. Hơn thế, liệu có còn thú vị không nếu biết rằng còn nhiều “ổ bệnh” bạch cầu tại khu vực này trong suốt 1 đến 3 thập kỷ qua. Cũng có những báo cáo về các “ổ dịch” bạch cầu tại các nơi khác, một trong các ổ dịch đó là tại bắc Clifornia được nêu ra tại San Francisco Chronicle ngày 10/6/1990.

Điều gì xảy ra với các động vật có vú khác khi chúng tiếp xúc với virus bạch cầu của bò? Đó là một câu hỏi thật sự công bằng và câu trả lời là không an toàn. Hầu như tất cả các động vật có vú bị nhiễm bệnh khi tiếp xúc với virus bạch cầu. Các loài này bao gồm cả cừu, dê và thậm chí là cả tinh tinh. Đường lây nhiễm của bệnh bắt nguồn từ ăn uống (cả với phương pháp truyền và tiêm tĩnh mạch) và sự xuất hiện của các tế bào trong sữa. Có bằng chứng về việc virus bạch cầu của bò không lây truyền sang con người nhưng chúng ta biết rằng virus bạch cầu bò có thể lây nhiễm sang tế bào người trong môi trường nhân tạo. Chúng ta cũng ghi nhận được sự hình thành kháng thể của con người với virus bạch cầu của bò, điều này thật sự đáng lo ngại.

Làm thế nào mà virus gây bệnh cho trâu, bò lại có thể xâm nhập vào cơ thể con người và hình thành kháng nguyên? Có phải chúng quá khó phát hiện hoặc đã biến tính? Nếu virus bạch cầu của bò có thể gây ra bệnh bạch cầu của con người chúng ta có thể mong đợi các nước chăn nuôi bò sữa với sự hiểu biết về đàn gia súc nhiễm bệnh bạch cầu sẽ có biện pháp mạnh hơn đề ngăn chặn bệnh bạch cầu ở người. Có thực sự như vậy? Thật không may, đó chỉ là hi vọng hão huyền! Iowa, Nebraska, South Dakota, Minnesota và Wisconsin có tỷ lệ mắc bệnh bạc cầu cao hơn tỷ lệ trung bình của Mỹ. Tại Nga và Thụy Điển, khu vực chưa thể kiểm soát được bệnh bạch cầu của bò có ghi nhận mối liên quan tới sự gia tăng bệnh bạch cầu ở người. Tôi cũng cho rằng những bác sĩ thú y có tỷ lệ mắc bệnh bạch cầu lớn hơn so với người dân. Các công nhân tại trại nuôi bò sữa có tỷ lệ ung thư bệnh bạch cầu tương đối cao. Các nghiên cứu gần đây cũng ghi nhận các tế bào Lipo từ sữa làm thức ăn cho động có vú xâm nhập vào cơ thể các trẻ sơ sinh bởi quá trình truyền dịch trực tiếp thông qua thành ruột.

Một lưu ‎ ý đáng quan tâm từ trường đại học Illinois, Ubana từ sở khoa học động vật cho thấy tầm quan trọng về quan điểm của động vật. Khi chúng ta chỉ quan tâm đến lợi ích kinh tế của sữa và ít tôn trọng khía cạnh sức khỏe, các sản phẩm sữa có chứa vi rút bạch cầu ngày càng tăng lên. Tuy nhiên, khi bệnh bạch cầu liên tục sản sinh ra các tế bào bạch huyết (làm tăng số lượng tế bào mủ), sản lượng sản xuất bị giảm xuống. Các nhà sản xuất sữa đã khuyến nghị “cần phải đánh giá lại tác động kinh tế của bệnh bạch cầu ở bò đối với ngành công nghiệp sữa”. Điều đó có nghĩa là bệnh bạch cầu sẽ bị kiểm soát để tiếp tục đem lại lợi ích cho các nhà sản xuất? Bạn có thể thấy mọi điều trong báo cáo kinh doanh từ Proc. Nat. Acad. Sciences, U.S. tháng 2 năm 1989. Tôi phải nhấn mạnh và công kích các trường đại học chỉ nghĩ đến lợi ích kinh tế mà bỏ qua vấn đề sức khỏe nhân loại. Đừng bao giờ tin vào các trường đại học và sở nông nghiệp. Những cọc tiền và áp lực chính trị luôn gây áp lực tốt. Còn bạn, bạn phải tự làm chủ bản thân mình. Điều này nghĩa là sao? Chúng ta biết rằng virus có khả năng gây ra bệnh bạch cầu ở rất nhiều loài động vật. Vậy nó có thể gây bệnh cho con người không (như bệnh u bạch huyết và một số bệnh ung thư khác)? Có một số bài báo đã đề cập đến vấn đề này:

1.      Mối liên hệ giữa đàn bò và bệnh bạch cầu ở người tại Iowa – tạp chí dịch tễ học số 112 năm 1980 trang 802.       Sự xuất hiện thường xuyên của Virus bạch cầu trong các sản phẩm sữa bò – Tạp chí khoa học (1981)3.      Hãy cẩn trọng với sữa bò tạp chí Lancet 2 (1974):trang 30……

Tại Na uy, 1422 cá nhân uống sữa bò được theo dõi trong 11 năm rưỡi. Họ, là những người uống từ hai ly sữa trở lên mỗi ngày, có tỷ lệ mắc bệnh ung thư liên quan đến bạch huyết gấp 3.5 lần (theo tạp chí y học Anh 61:456-9, tháng 3 năm 1990) Một bài phân tích khá chi tiết về chủ đề này cần nhắc đến là bài viết của Allan S. Cunningham trên tạp chí Lancet ngày 27/11/1976 (trang 1184). Trong bài viết “Bệnh bạch cầu và lượng protein động vật tiêu thụ”, tiến sĩ Cunningham đồng ý với rất nhiều ý kiến cho rằng sữa giống như “thịt lỏng”. Ông đã theo dõi khối lượng sữa và thịt bò tiêu thụ trong một năm tại mười lăm quốc gia trong giai đoạn từ năm 1955-1956. New Zealand, Mỹ và Canada là các nước có tỷ lệ tiêu thụ nhiều nhất theo thứ tự đó. Quốc gia sử dụng ít nhất là Nhật Bản kế đó là Nam Tư và Pháp. Tỷ lệ khác biệt giữa khối lượng cao nhất và thấp nhất khá rõ nét : 43.8 gram/ngày của Newzeland và 1.5 gram/ngày của Nhật Bản. Sự khác biệt này khoảng 30 lần! (trong 36 năm qua chứng kiến sự gia tăng đáng ngạc nhiên vê khối lượng tiêu thụ sữa và thịt bò tại Nhật Bản và các báo cáo về bệnh nhân tại Nhật bản khẳng định có rất ít các biện pháp “bảo vệ tính di truyền” trong các nghiên cứu di cư. Trước đây, sự gia tăng tần số bệnh u lipo tại Nhật bản chủ yếu bắt nguồn từ cộng đồng di cư từ Mỹ)!

Một điều rất thú vị đáng lưu ý là tại Shimoda,Nhật Bản người dân đã xây dựng đài tưởng niệm tại đền Gyokuenji để đánh dấu sự kiện con bò đầu tiên bị giết thịt để làm thực phẩm cho con người. Các dây xích quanh khu đài tượng niệm là món quà của hải quân Mỹ cúng tặng. Theo bạn, từ bao giờ người Nhật có ý tưởng ăn thịt bò? Năm nào? Đó là năm 1930.

Cunnngham cũng đã tìm thấy mối tương liên hệ rất lớn giữa các ca tử vong do u li-po với thịt bò và uống sữa của mười lăm quốc gia được theo dõi. Một vài trích dẫn đáng chú ý trong bài viết của ông như sau: Mức tiêu thụ protein của nhiều quốc gia hiện đang vượt quá mức độ khuyến nghị. Thói quen sử dụng quá nhiều protein động vật là nguyên nhân chính dẫn đến bệnh u lip-po. Ăn quá nhiều protein khiến quá trình hấp thụ kháng nguyên xảy ra tại màng nhầy của dạ dày. Các kháng nguyên xâm nhập gây ra sự kích thích mãn tính các mô bạch huyết và là nguyên nhân gây ra bệnh ung thư bạch huyết động vật và ở người. Màng nhầy của dạ dày chỉ là hàng rào yếu ớt ngăn cản sự hấp thụ kháng nguyên có trong protein thực phẩm, các kháng nguyên này xâm nhập vào cùng với protein kích thích rất lớn đến việc sản sinh bạch huyết. Uống sữa bò có thể dẫn đến nổi hạch, làm gan to, gây phù amidan. Ước tính có khoảng 100 kháng nguyên khác nhau do tiêu hóa sữa bò từ đó tạo nên kháng thể của người đối với sữa bò (điều này lý giải tại sao sữa tiệt trùng, virus đã bị loại bỏ mà vẫn còn kháng nguyên và gây ra nhiều bệnh tật)

Hơn thế, một nghiên cứu khá rộng được nhắc đến trong tạp chí ung thư ở Anh tháng 3 năm 1990 (khoảng 16000 cá nhân được theo dõi suốt 11 năm rưỡi) cho hay không có sự liên quan nhiều giữa những khối u và việc uống sữa ở các bệnh nhân. Tuy nhiên, trong khối u li-po lại xuất hiện một liên kết rất chặt chẽ. Nếu một người uống hai hoặc nhiều hơn ly sữa mỗi ngày (hoặc các sẳn phẩm khác có nguồn gốc từ sữa) tỷ lệ phát triển của liên kết này trong khối u gấp 3.4 lần so với những người uống ít hơn một ly sữa mỗi ngày.

Có hai loại bệnh của bò quý vị nên biết, hiện tại chưa có bằng chứng về việc lây lan bệnh này qua các sản phẩm của ngành công nghiệp sữa cũng như bệnh có thể lây cho người, đó là bệnh bò điên (BSE) và bệnh suy giảm miễn dịch ở bò (BIV). Bệnh bò điên tại Anh gây ra những hốc lỗ trỗ trên não của động vật. Từ lâu, cừu là loài động vật được biết đến với chứng bệnh thần kinh. Và dường như bệnh bò điên bắt nguồn từ chế độ ăn của bò tại đây khi mà khẩu phần ăn của bò chứa nhiêu thành phần chế biến từ cừu đặc biệt là não cừu. Nào hãy thử tưởng tượng bò có thể là loài động vật ăn thịt không? Nó có nên ăn thịt không? Hiệu ứng ngược của việc này là chứng bệnh não bị sùi, hay còn gọi là bệnh bò điên, đã càn quét khắp vương quốc Anh. Bệnh này gây ra chứng mất trí nhớ ở động vật và 100% là bệnh nan y. Hiện tại, khoảng hơn 100.000 co bò đã bị tiêu hủy theo luật pháp tại vương quốc Anh. Khoảng từ 400-500 con bò được phát hiện phơi nhiễm bệnh mỗi tháng. Sản lượng bò tiêu thụ tại anh giảm nhanh chóng xuống 25% và khoảng 2000 trường học tại đây đã loại bỏ thịt bò trong khẩu phần ăn cho học sinh. Một số nông dân cũng phát hiện ra hội chứng gây tử vong tương tự BSE và CJD, tuy nhiên hiệp hội thú y Anh cho rằng quá trình lây truyền bệnh bò điên tới con người là quá “xa vời”.

Bộ nông nghiệp Mỹ đồng tình với việc cho rằng dịch bò điên tại Anh liên quan đến khẩu phần ăn trong các trang trại gia súc có nguồn gốc từ bột xương hay các protein sản xuất từ thịt của những con cừu mắc bệnh thần kinh. Việc cấm nhập khẩu gia súc và động vật nhai lại sống từ Anh nhằm ngăn cản sự tồn tại bệnh bò điên tại Mỹ đã được đưa ra. Tuy nhiên, còn đó rất nhiều vấn đề khác. “Bò kiệt sức” là những con bò xuất hiện tại các phiên đấu giá hoặc được đưa đến các lò mổ với bộ dạng tả tơi, mất nước, ốm yếu do mắc virus hoặc vi khuẩn gây bệnh.  Chúng đã bị “kiệt sức”. Nếu chúng không có phản ứng với việc sốc điện để tự đi, chúng sẽ bị đẩy lên các băng truyền di chuyển tới các xe chở phế thải rồi đưa đến một nơi tái sản xuất nào đó. Nếu không chết thì rồi chúng cũng bị giết mổ. Thậm chí, một cái chết “nhân đạo” cũng khó có thể xảy ra ở những con bò này. Chúng tiếp tục sẽ biến thành thực phẩm cho động vật cũng như các chế phẩm khác. Chồn là loài động vật đã được cho ăn bởi loại thực phẩm nói trên và người ta đã phát hiện chứng bệnh ở não trên loài chồn có một số điểm tương đồng như BSE.  Toàn bộ loài chồn bị hủy diệt theo kiểu này đặc biệt là tại Wisconsin. Các ổ virus có nhiều khả năng bắt nguồn từ những “con bò kiệt sức”.

Một bài viết bất thường trên tạp chí Y khoa Anh có tiêu đề “ Bệnh bò điên hiện nay ra sao?” (BMJ vol. 304, 11 Apr. 1992:929-30) mô tả bệnh bò điên ảnh hưởng ở các loài động vật mà trước đây chưa từng được biết đến, đó là mèo. Họ thừa nhận rằng các sản phẩm sản xuất bị nhiễm bệnh sùi não ở bò đã nhập vào chuỗi thức ăn ở người tại Anh từ năm 1986 đến năm 1989. Họ nói rằng, để biết được có bị lây nhiễm hay không chúng ta phải chờ đợi vì quá trình ủ bệnh có thể lên đến ba thập kỷ!

Virus suy giảm miễn dịch được tìm thấy ở các trang trại gia súc tại Hoa Kỳ. Và  điều đáng lo ngại hơn là cấu trúc của virus này có liên quan mật thiết với virus AIDS ở người! Tại thời điểm này chúng tôi không biết việc tiếp xúc trực tiếp với các protein BIV liệu có thể là lý do huyết thanh của người  dương tính với HIV hay không. Mức độ lây lan virus này trong đàn bò Mỹ là “rộng rãi” (USDA từ chối kiểm tra các mẫu thịt và sữa để xem có các kháng thể đối với virus Retro hay không). Cũng không có một kế hoạch kiểm dịch đàn súc vật bị nhiễm bệnh nào cả. Cũng giống như bệnh AIDS ở người, bệnh BIV trên đàn bò không có cách cứu chữa. Mỗi ngày chúng ta tiêu thụ thịt bò và các sản phẩm từ sữa bò có nhiễm virus, và cũng chưa có một bằng chứng khoa học nào cho rằng các sản phẩm này là an toàn. Ăn thịt bò sống ( như trong bit tết  Tartare) có rủi ro rất cao nhất là khi chúng ta ghi nhận có trường hợp tử vong do E.Coli năm 1993.

Một bài báo trên tạp chí thú y Canada October 1992, Vol. 56 pp.353-359 và một bài viết từ Nga cũng cho chúng ta thấy sự phát triển đến kinh hãi của căn bệnh này. Báo cáo này ghi nhận trường hợp đầu tiên trong huyết thanh của người có xuất hiện các kháng thể đối với protein suy giảm miễn dịch ở bò. Ngoài báo cáo đáng lo ngại này, một bài viết từ Nga đề cập đến sự hiện diện của protein virus liên quan đến virus bạch cầu bò xuất hiện trên 5 trong số 89 phụ nữ có bệnh vú (Acta Virologica 34 tháng 2 năm 1990 (1): 19-26). Hiện nay, các tác động của sự phát triển này là không rõ. Tuy nhiên, Có thể nói là an toàn không khi những loại virus này không còn muốn “ở” trong thế giới của loài vật?

CÁC LOẠI UNG THƯ KHÁC, CÓ GÌ TỒI TỆ KHÔNG?

Thật không may điều đó là hiện thực. Ung thư buồng trứng – một khối u khó chịu – có liên quan tới mức tiêu thụ sữa của những công nhân tại viện Roswell Park Memorial tại Buffalo, New York. Những phụ nữ uống hơn một ly sữa nguyên chất hoặc tương đương mỗi ngày dẫn đến nguy cơ bị bệnh cao hơn gấp 3.1 lần so với những người không sử dụng sữa. Họ cho rằng, việc giảm lượng sữa béo sẽ giúp giảm nguy cơ bị bệnh. Hiệp hội này đã thực hiện lặp lại nhiều lần các điều tra như vậy. Một nghiên cứu quan trọng khác, được thực hiện tại trường dược học Harvard, đã phân tích dữ liệu ở 27 quốc gia từ những năm 1970. Kết quả nghiên cứu này tiết lộ sự tương quan giữa bện ung thư buồng trứng với sản lượng sữa tiêu thụ bình quân đầu người.

Các điều tra cho thấy đường lactose trong sữa đóng vai trò trong nguy cơ này, và sự tiêu hóa mặc dù được hỗ trợ bởi khả năng chuyển hóa lactose ( từ chối dung nạp lactose), cho thấy được sự khác biệt, nhưng có cùng kết quả. Nghiên cứu này được chỉ ra trong báo cáo của tạp chí dịch tễ học Mỹ 130 (5): 904-10 Nov. 1989. Những bài viết này được công bố từ hai trong số các tổ chức hàng đầu của quốc gia chứ không phải là  tạp chí Rodale Press hay Prevention! Thậm chí ngay cả ung thư phổi cũng có liên quan đến sữa? Thói quen uống sữa của 569 bệnh nhân ung thư phổi được ghi nhận ở Roswell Park đã được nghiên cứu lần nữa trên tạp chí Ung thư vào 15/4/1989.

Những người uống từ ba ly sữa hoặc hơn mỗi ngày có nguy cơ bị mắc ung thư phổi gấp hai lần so với những người chưa bao giờ uống sữa. Trong nhiều năm chúng tôi đã theo dõi tỷ lệ ung thư phổi ở đàn ông Nhật Bản những người hút thuốc nhiều hơn đàn ông  Mỹ và đàn ông Châu Âu lại có tỷ lệ ung thư phổi thấp hơn. Những người làm nghiên cứu trong lĩnh vực này cho rằng sự khác biệt lớn nhất là tổng lượng chất béo trong cơ thể. Không có nhiều báo cáo nghiên cứu về mối tương quan giữa những người uống sữa và ung thư tuyến tiền liệt. Một báo cáo như vậy là rất đáng giá. Báo cáo này từ viện nghiên cứu Roswell Park Memorial và cũng đã được tìm thấy ở tạp chí Ung thư 64(3): 05-12,1989.

Họ phân tích dữ liệu của 371 bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt và đối chứng, so sánh để đưa ra kết luận rằng: Những người trong báo cáo uống ba hoặc nhiều hơn ly sữa mỗi ngày có tỷ lệ mắc ung thư tuyến tiền liệt gấp 2.49 lần so với những người chưa bao giờ uống sữa. Kết quả này ủng hộ giả thuyết rằng chất béo động vật có liên quan đến tăng nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt. Ung thư tuyến tiền liệt là bệnh ung thư phổ biến nhất ở nam giới được chuẩn đoán tại Mỹ và là nguyên nhân đứng thứ hai dẫn đến tử vong do ung thư.

Ồ, VẬY UỐNG SỮA CÓ LỢI ÍCH GÌ?

Có bất kỳ vấn đề về sức khỏe nào đối với người trưởng thành mà bắt nguồn từ việc uống sữa bò hay không? Thật khó để chỉ ra những nguyên nhân thậm chí là đưa ra những ví dụ đơn giản. Nhưng nếu bạn muốn hiểu rõ, theo tôi, hai điều sau đây là cốt lõi của vấn đề: sữa là một nguồn cung cấp canxi và đó là một nguồn amino axit(protein) Hãy nói đến Canxi trước. Tại sao chúng ta rất quan tâm đến canxi. Rõ ràng, chúng ta mong muốn canxi sẽ xây dựng một hệ xương chắc khỏe và chống lại bệnh loãng xương. Vì vậy, không còn nghi ngờ gì nữa, sữa bò được bổ xung canxi. Nhưng đây có phải là một nguồn canxi tốt cho con người? Tôi nghĩ là không. Đây là lý do.

Hàm lượng canxi quá lớn sẽ ảnh hưởng đến quá trình hấp thụ canxi của cơ thể. Hơn thế, hàm lượng protein quá nhiều trong sữa là nguyên nhân chính gây ra những vấn đề về bệnh loãng xương. Tiến sĩ Hegsted ở Anh đã có nhiều bài viết trong nhiều năm nói về việc phân bổ bệnh loãng xương theo khu vực địa lý. Những quốc gia sử dụng nhiều sản phẩm từ ngành sữa bò nhất luôn là những nước có tỷ lệ loãng xương cao nhất. Ông ta cho rằng, sữa là nguyên nhân gây ra chứng loãng xương. Nguyên nhân là do:Hàng loạt các nghiên cứu đã chỉ ra rằng mức độ uống canxi và đặc biệt là hàm lượng bổ xung canxi không hề ảnh hưởng đến sự phát triển chứng bệnh loãng xương. Điều quan trọng này đã xuất hiện trên tạp chí Y khoa của Anh nơi các nhà sản xuất không thể gây ảnh hưởng cho dù có cánh tay dài đến mấy. Các nghiên cứu khác ở Mỹ cũng đã cho thấy việc uống ba ly sữa 8 ouce mỗi ngày của các phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh làm cho sự cân bằng canxi của cơ thể tồi tệ hơn (tạp chí dinh dưỡng Clin năm 1985). Sự ảnh hưởng của hóc môn, giới tính, cân nặng lên hệ xương trục, đặc biệt là lượng protein hấp thụ là đặc biệt quan trọng. Các quan sát khác có thể hữu ích trong việc nghiên cứu của chúng ta là những ghi chú về thiếu vắng của những bản ghi về sự thiếu hụt canxi giữa những người đang sống bằng những bữa ăn tự nhiên không có sữa.

Chìa khóa để trả lời về câu đố loãng xương là đừng chỉ quan tâm đến caxin, hãy quan tâm đến protein. Hãy quan sát hai nhóm người tương phản. Người Eskimo đưa vào cơ thể hàm lượng protein cực cao vào khoảng 25% tổng lượng calo. Họ có hàm lượng canxi hấp thụ cao ở mức 2,500mg/ngày. Tuy nhiên, họ lại là một trong số nhóm người mắc chứng bệnh loãng xương cao nhất thế giới. Một nhóm người khác là Bantus ở Nam Phi. Bữa ăn của họ chỉ có 12% protein, chủ yếu là protein thực vật, và hàm lượng canxi hấp thụ chỉ 200-350mg/ngày – chỉ bằng một nửa hàm lượng canxi cần thiết cho phụ nữ. Những người phụ nữ ở đây không hề bị mắc chứng loãng xương cho dù họ thường mang thai khoảng 6 lần và phải chăm sóc con cái trong thời gian dài.

Vậy những phụ nữ châu Phi khi nhập cư vào Mỹ có bị mắc chứng bệnh loãng xương không? Câu trả lời là có nhưng khác biệt với những người da trắng và Á Châu. Như vậy có sự thay đổi về mặt di truyền học bắt nguồn từ thực phẩm. Để có câu trả lời rõ ràng, “Bạn thu nạp canxi vào cơ thể từ đâu?” và câu trả lời là “ Từ chính nơi mà những con bò hấp thụ canxi vào cơ thể, từ thảm xanh trên đất nơi những con bò lớn lên”, chủ yếu từ các loại rau xanh. Hơn hết, những con voi, tê giác phát triển hệ xương vững chắc (sau khi cai sữa) bằng việc ăn lá của các loài thực vật. Dường như tất cả động vật trên thế gian này làm được tốt hơn nếu họ sống đúng với bản chất di truyền của mình và sử dụng thức ăn tự nhiên. Chỉ riêng con người với lối sống giàu có lại bị mắc chứng bệnh loãng xương tràn lan.

Nếu những tham khảo về đồng vật chưa đủ để thuyết phục bạn, hãy nghĩ về hàng tỷ người trên thế gian này chưa từ nhìn thấy sữa bò. Bạn sẽ nghĩ rằng chứng loãng xương ở những người này là rất lớn? Những người uống sữa sẽ nghĩ là như vậy nhưng sự thật lại hoàn toàn ngược lại. Tỷ lệ mắc chứng loãng xương của họ rất ít so với những nơi mà các sản phẩm sữa bò được sử dụng phổ biến. Đây sẽ là chủ đề tốn nhiều giấy mực khác nhưng những yếu tố quyết định thực sự ảnh hưởng đến chứng loãng xương chính là quá trình nạp protein dư thừa quá mức vào cơ thể và sự quá tải bởi trọng lượng tác động lên hệ xương, cả hai điều này diễn ra nhiều thập kỷ qua. Hóc môn có liên quan đến sự loãng xương nhưng với phụ nữ mức ảnh hưởng của nó là không đáng kể. Sữa chính là bức cản lớn nhất cho một hệ xương khỏe mạnh.

HOANG TƯỞNG VỀ PROTEIN

Còn nhớ, khi bạn còn là một đứa trẻ, người lớn thường nói rằng “hãy cung cấp thật nhiều protein cho cơ thể”. Protein là một loại dinh dưỡng “tốt nhất” đối với trẻ em. Và tất nhiên, sữa là thực phẩm được lựa chọn đầu tiên.

Về protein, sữa thực sự là một nguồn cung cấp thực phẩm giàu protein – “như thịt lỏng” vậy, bạn có nhớ không? Tuy nhiên, đó lại không phải là điều chúng ta thực sự cần. Thực tế, đó là nguồn gốc của nhiều nguy hiểm cho chúng ta.

Hầu hết người Mỹ đều ăn quá nhiều protein. Đối với thông tin này, chúng tôi dựa vào những nguồn mà theo chúng tôi là đáng tin cậy nhất. Đây là phiên bản mới nhất (lần thứ 10, năm 1989, tái bản lần thứ 4 tháng 1 năm 1992) của Tiêu chuẩn dinh dưỡng được thực hiện bởi Hội đồng nghiên cứu quốc gia. Điều đáng quan tâm là chủ biên của công trình quan trọng này là tiến sĩ Richard Havel từ đại học California, San Francisco. Trước tiên, cần phải chú ý rằng hàm lượng protein khuyến nghị được đề nghị giảm xuống trong các lần tái bản tiếp theo. Hàm lượng protein khuyến nghị hiện nay là 0.75g/kg/ngày đối với người có tuổi từ 19 – 51. Như vậy, với một người trưởng thành có khối lượng 60kg thì hàm lượng protein lý tưởng cung cấp cho cơ thể mỗi ngày vào khoảng 45g. Bạn nên hiểu biết rằng, hiệp hội y tế thế giới (WHO) ước tính nhu cầu protein của người trưởng thành ở mức 0.6g/kh/ngày.(Mọi tính toán ở đây căn cứ theo mức độ an toàn chung, và tùy vào thể trạng mỗi người thì bạn có thể bổ xung thêm nếu thấy “thỏa mái” ) Tuy nhiên, bạn có thể sử dụng từ 28 -30 gram/ngày là đủ cho cơ thể mình.

45 gram / ngày là một lượng nhỏ protein. Chỉ là 1.5 ounce thôi mà! Hơn thế protein không nhất thiết cứ phải là protein động vật. Protein thực vật tương đối đồng nhất và có giá trị tương đương như protein động vật nhưng có hàm lượng cholesterol cũng như chất béo thấp. (Đừng bị đánh lừa bởi quan niệm cũ cho rằng cần phải cân bằng hàm lượng protein thực vật nếu như không muốn bị thiếu hụt). Như vậy người Mỹ, Canada, Anh và Châu Âu đang trong tình trạng quá tải protein. Điều này được duy trì qua nhiều thập kỷ  và gây ra nhiêu hậu quả nghiêm trọng. Các vấn đề được nói đến là loãng xương, xơ vữa động mạch và suy thận. Có nhiều bằng chứng cho thấy một số loại ung, chủ yếu ở trực tràng và đại tràng, có liên quan đến việc tiêu thụ thịt quá mức. Barry Brenner, một nhà nghiên cứu về thận nổi tiếng, là người đầu tiên chỉ ra mối nguy hiểm của việc hấp thụ protein quá mức đối với thận. Cuối cùng, bạn nên biết rằng tỷ lệ protein trong sữa mẹ là 0.9%, thấp nhất trong các loài động vật có vú.

CÁC VẤN ĐỀ CHỈ CÓ VẬY THÔI SAO?

Xin lỗi, vẫn còn nữa. Bạn còn nhớ lactose chứ? Đây là carbon Hydrate chính của sữa. Dường như thiên nhiên ban cho mỗi sinh linh khi ra đời loại enzyme cần thiết để chuyển hóa lactose nhưng khả năng này sẽ dần mất đi khi chúng đến độ 4-5 tuổi.

Vậy vấn đề với lactose hay đường có trong sữa ở đây là gì? Phân tử đường  đôi saccharide có khích thước quá lớn để đi qua thành ruột vào máu. Để làm được điều này, nó cần phải được tách làm hai phân tử saccharide đơn là galactose và glucose. Tiếp đó, cần phải có mặt của enzyme lactase và một số enzyme khác để chuyển hóa galactose thành glucose.

Thử nghĩ về điều này một chút. Thiên nhiên ban cho chúng ta khả năng chuyển hóa lactose trong vài năm và sau đó tắt cơ chế đó đi. Có phải mẹ Thiên nhiên nhắn nhủ chúng ta điều gì chăng? Rõ ràng, tất cả các trẻ sơ sinh cần phải uống sữa. Việc rất nhiều người lớn không uống được sữa có thể liên quan đến xu hướng tự nhiên là xóa bỏ những cơ chế không cần thiết khi đến tuổi trưởng thành. Ít nhất một nửa số người trưởng thành trên thế giới này không dung nạp được lactose.  Việc tiếp tục dung nạp lactose ở tuối trưởng thành chỉ xuất hiện khi ngành chăn nuôi bò sữa ra đời và khả năng “vay mượn” sữa các loài động vật có vú khác nhằm duy trì khả năng chuyển hóa lactose (các enzyme giúp chuyển hóa lactose) như là một điều hiển nhiên. Nhưng uống sữa bò có lợi ích gì? Hơn nữa, tại sao hầu hết con người trên thế giới này làm vậy trong lịch sử của mình? Và hơn thế, tại sao người da trắng lại có khả năng hấp thụ lactose trong khi người da đen lại dần mất đi khả năng này?

Một số sinh viên đã phát hiện ra rằng làn da trắng là một quá trình tự thay đổi trên cơ thể con người trong khoảng từ 20.000 – 30.000 năm trước đây. Nó bắt nguồn từ việc di cư lên phía Bắc, đến các vùng lạnh và thiếu ánh sáng mặt trời của con người và khi đó con người bắt đầu sử dụng đến quần áo. Màu da trắng giúp cho quá trình tổng hợp vitamin D từ ánh sáng mặt trời nhanh hơn da màu đen. Tuy nhiên, chỉ cần khuôn mặt được tiếp xúc với ánh sáng mặt trời là cơ thể đã có thể tổng hợp đủ lượng vitamin D. Nếu ánh sáng quá yếu hoặc thực phẩm bổ xung không đủ vitamin D, khả năng sử dụng hàm lượng canxin dồi dào từ sữa bò sẽ giúp con người sinh tồn nếu như họ có thể tiêu hóa sữa. Đây có lẽ là cách giải thích khá logic cho việc người da trắng có khả năng chuyển hóa lactose tốt hơn so với người da đen.

Tỷ lệ này là như thế nào? Khoảng 90% người da đen trưởng thành từ chối dung nạp lactose. Tỷ lệ này ở người da trắng vào khoảng 20-40% và người phương Đông nằm ở giữa hai nhóm đó. Tiêu chảy, đầy bụng, đau bụng là điều thường xuyên xảy ra nếu họ uống một lượng lớn sữa. Hầu hết người da đỏ châu Mỹ không thể uống được sữa. Ngành công nghiệp sữa khẳng định việc không dung nạp sữa làm khổ sở cho khoảng 50 triệu dân Mỹ. Cả một ngành công nghiệp phục vụ cho những người không dung nạp lactose đã ra đời cho doanh thu khoảng $117 triệu  trong năm 1992 (tạp chí Time 17/05/1993).

Điều gì xảy ra nếu cơ thể bạn từ chối dung nạp lactose và vẫn muốn sử dụng các sản phẩm khác từ ngành công nghiệp sữa bò? Bạn sẽ phải từ bỏ tất cả phải không? Không phải vậy. Các lactose phần lớn có thể được chuyển hóa bởi các vi khuẩn và bạn hoàn toàn có thể thưởng thức phô mai mặc dù cơ thể bạn từ chối lactose. Sữa chua là một ví dụ điển hình cho việc này. Và cuối cùng, tôi không bao giờ mơ về một ngày mà các nhà di truyền học sẽ dùng phương pháp ghép gen để thay đổi thành phần cấu tạo của sữa bò.

Người ta có thể cãi lại rằng sữa không chứa chất xơ và việc sử dụng sữa thường xuyên như một thói quen sẽ dẫn đến rối loạn tiêu hóa và táo bón. Hầu hết các bác sĩ đều biết mối liên quan giữa sữa và chứng thiếu máu và chảy máu thành ruột ở trẻ sơ sinh. Nguyên nhân chủ yếu là sự thiếu hụt sắt trong sữa và khả năng gây kích thích thành ruột của sữa. Các tài liệu nghiên cứu nhi khoa có nhiều bài báo mô tả hiện tượng thành ruột bị kích thích, chảy máu, tăng tính thẩm thấu cũng như chứng đau bụng, tiêu chảy, nôn mửa ở những đứa trẻ nhạy cảm với sữa bò. Cả hai yếu tố mất máu qua chảy máu thành ruột và thiếu hụt sắt trong sữa góp phần gây ra chứng thiếu máu. Sữa cũng là nguyên nhân hàng đầu gây ra dị ứng ở trẻ em.

SỮA ÍT BÉO

Một vấn đề khác cũng nên đề cập đến là: các vấn đề của sữa “ít béo”. Một câu hỏi chung và quan trọng là “ Nào, vậy thì sữa ít béo không sao chứ gì, đúng không?”.

Câu trả lời là sữa ít béo không phải là sữa có chứa ít chất béo. Khái niệm “ít béo” là một thuật ngữ tiếp thị để đánh lừa người tiêu dùng. Sữa ít chất béo có chứa từ 24% đến 33% chất béo dạng calories. Con số 2% cũng là một sự hiểu lầm. Điều này liên quan đến trọng lượng. Họ không cho chúng ta biết rằng tính theo khối lượng, 87% của sữa là nước!

‘Vậy thì, đồ phá đám, anh hẳn phải chấp nhận sữa không béo !’ Tôi nghe câu này khá nhiều. Đúng, sữa không béo hầu như không có chất béo, nhưng bạn vẫn phải nhận lượng lớn protein và lactose. Nếu có cái gì đó mà chúng ta không cần thêm nữa, đó là lactose, một loại đường đơn cấu thành từ galactose và glucose. Hàng triệu người Mỹ không dung nạp lactose như đã nói ở trên. Đối với protein, cũng như đã nói ở trên, chúng ta sống trong một xã hội thường xuyên hấp thụ nhiều protein hơn rất nhiều so với lượng cần thiết. Đó là gánh nặng cho cơ thể, đặc biệt là thận và là nguyên nhân chính của chứng loãng xương.

TÓM LẠI

Theo tôi nghĩ, chỉ có một lý do duy nhất để uống sữa hoặc sử dụng các sản phẩm từ sữa. Đó đơn giản bởi vì chúng ta muốn thế. Chúng ta thích sữa vì vậy sữa trở thành một nét văn hóa của chúng ta.

Bởi vì chúng ta quen với hương vị và kết cấu của sữa. Bởi vì chúng ta thích cảm giác của sữa chảy qua cổ họng. Bởi vì bố mẹ chúng ta muốn cho chúng ta những gì tốt đẹp nhất họ có thể vì thế họ bổ sung sữa cho chúng ta trong những trải nghiệm đầu đời.Họ dạy ta cách yêu sữa và nguyên nhân quan trọng nhất đó là kem. Cảm giác của nó chúng ta sẽ giữ mãi “cho đến cuối đời”.

Tôi có một bệnh nhân để minh chứng cho điều này. Ông ấy không phải là người tệ nạn. Ông ấy không hút thuốc hay uống rượu, không ăn thịt và có một chế độ ăn cũng như một lối sống rất tốt, nhưng ông ấy có một đam mê. Bạn thử đoán xem? Ông ấy thích ăn kem béo, 0.57 lít kem béo mỗi ngày không phải là khẩu phần ăn đủ với ông ấy. Vào những dịp hội hè, ông ta có thể ăn đến cả gallon (1.13 lít) – và tất nhiên có thêm cả bánh quy và bánh ngọt nữa. Ông ta dường như có sức khỏe ổn định ngoại trừ vài vấn đề về “ tuổi trung niên” cho đến khi ông ta gặp một cơn đột quỵ nghiêm trọng khiến ông bị liệt, đau khổ và bất lực. Và ông ấy đã bị đột quỵ bổ xung rồi mất vài năm sau đó sau khi đã không bao giờ có thể ra khỏi bệnh viện hay các trung tâm phục hồi chức năng. Ông ấy đã già ư? Tôi không nghĩ như vậy, ông ấy mới khoảng 50 tuổi.

Hãy đừng uống sữa vì sức khỏe. Tôi tin vào giá trị của các bằng chứng khoa học cho rằng sữa không “tốt cho cơ thể”. Bổ xung sữa chỉ làm giảm giá trị dinh dưỡng và sự an toàn trong chế độ ăn uống của bạn. 

Hầu hết con người trên hành tinh này có một cuộc sống khỏe mạnh mà không cần phải uống sữa. Bạn cũng có thể làm vậy. 

Thay đổi thói quen là một điều rất khó khăn. Ngay từ ấu thơ chúng ta đã được luyện để coi sữa là một “thực phẩm hoàn hảo nhất của tự nhiên”.

Tôi đảm bảo với bạn rằng không uống sữa là an toàn, sẽ cải thiện sức khỏe và bạn không mất đồng nào cả. Bạn còn muốn gì hơn thể nữa?

Bản quyền chuyển ngữ  © hoachinh Nguồn chuyển ngữ  : The milk letter: A message to my patients trên  notmilk.com của Robert M. Kradjian, MD

Bài viết liên quan:

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s