FO vẫn sẽ là FO, không thể thành xăng!

Đây là phản hồi của một bạn đọc về bài viết “ Cộng đồng mạng tiết lộ về “công nghệ” làm xăng rởm ” trên Vnexpress.net. Chắc chắn anh là một trong những người trong nghề nên có cách giải thích rất chính xác. Việc sản xuất xăng không đơn giản như ăn kẹo đâu nên xin mọi người chớ lầm tưởng cái sơ đồ kia là có thật. Nó là BỐ LÁO (theo lời người phản hồi). Nếu có cách sản xuất xăng đơn giản như vậy thì việc ra đời nhà máy lọc dầu Dung Quất với trị giá tỷ USD chả có giá trị gì. Xin mọi người chờ đợi thêm thông tin từ  các nhà chức năng…

========

Sơ đồ được cho là sản xuất xăng từ FO và chất VNK

Không rõ cái anh Tùy (tiến sĩ Đào Quốc Tùy, bộ môn công nghệ hữu cơ-hóa dầu, đại học Bách khoa Hà Nội) nói “mang tính tham khảo” với hàm ý nói nhẹ đi không, nhưng nhìn sơ đồ sản xuất xăng kia tôi nói thẳng là BỐ LÁO. Một sơ đồ pha chế mang tính thủ công như trên, không dựa trên những kiến thức cơ bản về lý-hóa-nhiệt động, các tính toán thiết kế, các nguyên tắc điều khiển, các qui định về an toàn, chỉ tiêu sản phẩm, không theo một công nghệ đã được kiểm chứng nào (proven design) thì không thể gọi là một “công nghệ”.

Dầu đốt (Fuel Oil – FO) là phân đoạn tương đối nặng sau phân đoạn dầu nhờn, là hỗn hợp sản phẩm các hydrocarbon trong đó số nguyên tử carbon từ 20 – 45, tương đương với nhiệt độ điểm sôi (Boiling point) từ 315 – 450 độ C. Trong nhà máy lọc dầu, FO là sản phẩm từ phân xưởng chưng cất ở áp suất khí quyển (Crude Distillation Unit), phân xưởng chưng cất chân không (Vacuum Distillation Unit) và các phân xưởng cracking xúc tác (Fluid Catalytic Cracking) hoặc Hydrocracking.

FO được dùng làm dầu đốt lò (fired heater), đốt nồi hơi (boiler) hoặc chạy các turbin hỗn hợp trong nhà máy điện. Các chỉ tiêu sản phẩm quan trọng nhất của FO là nhiệt cháy (heating values), hàm lượng tạp chất (trong đó có lưu huỳnh), điểm chớp cháy (flash point), tỷ trọng (density) và độ nhớt (viscosity). Trong khi đó Xăng là hỗn hợp các hydrocarbon có từ 6-10 nguyên tử Carbon ở phân đoạn trên (theo thứ tự Gas/LPG, Xăng máy bay, Xăng ô tô, Các dung môi, Nhiên liệu bay (Jet Fuel), Dầu hỏa (Kerosene), Dầu nhẹ Light Cycle Oil, Diesel, Dầu đốt (FO), Asphalt (nhựa đường), Dầu nhờn (Lubricant), mỡ nhờn (grease) khi chưng cất dầu mỏ. Xăng nằm ở phân đoạn có nhiệt độ sôi (boiling point) từ 40 – 200 độ C. http://www.theoildrum.com/node/6089 Xăng thương phẩm là sự pha trộn của Butane, các alkylate, straight-run naphtha, reformate từ phân xưởng Reforming xúc tác (CCR) và naphtha từ phân xưởng cracking xúc tác (FCC hoặc RFCC).

Mục đích sử dụng của FO hoàn toàn khác với xăng: sử dụng trong các động cơ đốt trong (internal combustion engine), không ai sử dụng FO hoặc FO pha trực tiếp vào xăng để sử dụng cho động cơ đốt trong như xăng ô tô, xe máy. Vì mục đích sử dụng của FO như vậy nên không ai xác định trị số octane của FO. Chất VNK tôi không rõ là chất gì, nhưng dựa trên tỷ lệ pha trộn với FO như trên thì nó là 1 loại phụ gia, tính chất loại phụ gia này và tác động của nó lên FO không rõ, nhưng với tỷ lệ nhỏ như vậy thì không thể có tác động lớn (tích cực) đến việc thay đổi tính chất FO để tương ứng với xăng thành phẩm.

Trong thuật ngữ kỹ thuật không sử dụng “xăng non”, đó có thể là một thuật ngữ của những người không có chuyên môn gọi cho 1 tiền chất họ dùng pha chế. Tôi phỏng đoán có thể là naphtha (là một thành phần pha trộn của xăng thông thường) hoặc condensate như bạn nào đó nói. Theo sơ đồ pha chế thủ công kia, giai đoạn lọc ly tâm ban đầu để tách các tạp chất là các hạt rắn lơ lửng, cặn trong FO. Cái được chú thích là dùng máy nén, theo sơ đồ đó thực ra là quá trình lọc tinh hơn sau giai đoạn lọc sơ bộ ban đầu, nếu có màng lọc (membrance filtration) thì dùng lực nén mạnh để loại bỏ một số hydrocarbon có cấu trúc phân tử quá lớn, cồng kềnh nhờ tác dụng của màng lọc để tách lấy các hydrocarbon nhỏ hơn.

Sở dĩ tôi cho đó là quá trình lọc chứ không phải nén vì đặc tính của chất lỏng là ít chịu nén, thực tế đối với chất lỏng chỉ dùng “nén” trong các trường hợp để giảm xóc hoặc quá trình cắt kim loại bằng máy cắt chuyên biệt (high pressure water jet machine). Nếu máy lọc tinh kia sử dụng màng lọc và dưới áp suất nén cao (giả định như vậy, thực tế những máy này không hề rẻ nên khả năng dùng loại máy đó trong sơ đồ trên là khá thấp) cũng chỉ lọc được một số hydrocarbon nhất định có kích thước phân tử lớn hơn đường kính mao quản của màng lọc chứ không thể tách được hết các hydrocarbon có phân tử lớn trong dầu FO để thu được hydrocarbon như trong xăng.

Thực tế thì nếu có lọc được như vậy thì áp lực nén phải cực lớn và lượng hydrocarbon tương ứng như trong xăng thu được sẽ ….bằng 0 vì trong FO hầu như không có các hydrocarbon như trong xăng. Việc pha thêm chất phụ gia VNK (???) cũng không làm tăng khả năng tạo các hydrocarbon như trong xăng vì phản ứng hóa học xảy ra (nếu có) cần phải có nhiều điều kiện như nhiệt độ, áp suất, xúc tác, thời gian lưu và hoàn toàn không dễ dàng cho phản ứng xảy ra chọn lọc theo hướng mong muốn.

Các chất phụ gia chỉ làm cải thiện một vài tính năng của sản phẩm chứ không có tác dụng biến đổi sản phẩm một cách hoàn toàn như chủ nhân của sơ đô kia mong đợi. Qua 2 giai đoạn lọc cơ học trên, tôi cho rằng “sản phẩm” sau khi lọc vẫn hoàn toàn là …FO, có được lọc bớt một số chất rắn và cặn. Pha trộn vào xăng cũng không thể làm tăng khả năng cháy nổ của xăng vì FO có nhiệt độ bắt cháy cao hơn xăng. Trong điều kiện cháy của động cơ ô tô, xe máy, FO sẽ không hoàn toàn cháy hết (đến xăng dễ cháy hơn mà cũng chỉ cháy hết 98-99% max.) nên sẽ còn nhiều cặn dầu và tro trong khí thải cũng như bám vào động cơ.

Hàm lượng lưu huỳnh trong FO cao hơn xăng gấp nhiều lần (trong xăng ở mức ppm, còn trong FO ít nhất cỡ vài ngàn đến vài chục ngàn ppm), khi cháy FO sẽ tạo ra H2S và các hợp chất lưu huỳnh khác có tính ăn mòn cao, về lâu dài sẽ làm hỏng piston và động cơ cũng như tăng hàm lượng chất độc hại H2S trong khí thải xe ra môi trường.

Có bạn cho rằng VNK khi gặp lưu huỳnh sẽ phản ứng tạo cháy thì xin thưa rằng không dễ dàng như vậy. Lưu huỳnh có trong xăng cũng như FO là lưu huỳnh nằm trong liên kết phân tử, ví dụ như trong mercaptan chứ không phải lưu huỳnh trong acid và lưu huỳnh tự do. Phản ứng nếu có cũng phải trong môi trường nhất định như nhiệt độ, áp suất, tỷ lệ H2/hydrocarbon và tốc độ dòng (liquid hourly space velocity- LHSV) như trong các quá trình hydro hóa có xúc tác trong các phân xưởng xử lý naphtha, Kerosene hay LPG (hydro-desulphurisation units) của nhà máy lọc dầu, tức là trong những điều kiện nhất định chứ không dễ dàng như trong buồng đốt của động cơ ô tô, xe máy.

Tóm lại, không có cơ chế nào giải thích cho sơ đồ thủ công bố láo kia, chỉ có cơ chế là LỢI NHUẬN.

hoachinh sưu tầm từ vnexpress.net

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s